Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

BỆNH VẨY NẾN CHỮA BẰNG THUỐC NAM

Bệnh vảy nến là một loại bệnh mà các tế bào da khi chết dày lên tạo thành những nốt vảy da gây ngứa, các vẩy như vảy cá trên da ngày càng phát triển làm cho người bệnh luôn bị ngứa ngáy rất khó chịu.


Bệnh vẩy nến ở lưng


Chánh Tuân có một người thân bị bệnh vảy nến hơn 10 năm nay, đã đi chữa trị nhiều nơi và sử dụng rất nhiều loại thuốc khác nhau nhưng không thể chữa trị khỏi hoàn toàn căn bệnh này và được các bác sỹ khuyên nên “sống chung hòa bình” với căn bệnh này.
Thật may mắn vì tình cờ gần đây Chánh Tuân được một người quen chỉ cho hai bài thuốc dân gian để điều trị bệnh vảy nến rất đơn giản, dễ làm, chi phí thấp nhưng lại rất hiệu nghiệm (kiên trì thực hiện liên tục ít nhất 2 tháng sẽ thấy kết quả), đến nay người thân của Chánh Tuân đã gần như khỏi hẳn bệnh. Chánh Tuân cũng đã chia sẻ 2 bài thuốc này đến một vài người quen đang bị bệnh vảy nến và cũng đã giúp cho căn bệnh của họ được thuyên giảm một cách rất đáng kể. 


Mọi người chỉ nên sử dụng một trong hai bài thuốc dân gian sau đây: 1. Bài thuốc thứ nhất (Rất hiệu nghiệm và dễ thực hiện): Dùng lá và đọt tươi của cây Muồng Trâu rửa sạch rồi đâm nhuyễn lấy nước, sau đó pha với dung dịch kem thuốc điều trị bệnh lác nhãn hiệu KenTax (loại thuốc được bán rất phổ biến tại các tiệm thuốc Tây dùng để điều trị các bệnh nấm trên da, Tuyp thuốc màu cam, lớn bằng ngón tay út) theo tỷ lệ 2/3 nước lá và đọt Muồng Trâu tươi với 1/3 dung dịch kem thuốc lác. Sau đó chấm bông gòn thoa hỗn hợp thuốc này vào vị trí những nơi bị vảy nến. 




  

CÂY MỀN TRẦU
Đọc Thêm 
THUỐC CHỮA BỆNH VẨY NẾN

2. Bài thuốc thứ hai:

Lá trầu + rau răm + muối sống (muối hột) + bèo hoa dâu.
Rửa thật sạch bằng nước muối rồi cắt hoặc xé nhỏ tất cả các loại lá trên bỏ vào nồi đun sôi chín nhừ khoản từ 15 – 20 phút, để ấm rồi lấy nước tắm (trước khi tắm nên uống khoảng 1/5 ly rượu nhỏ [loại ly nhỏ dùng để uống rượu] hỗn hợp nước của các loại lá này (Nếu đang mang thai hoặc chuẩn bị có thai hoặc đang cho con bú thì tuyệt đối không nên uống hỗn hợp nước này), sau đó giã nát hỗn hợp các loại lá này rồi lấy bông gòn thấm hút nước từ hỗn hợp lá đã được giã nát này chà xát vào vùng da nơi bị vảy nến để cho các vảy nến bị bong tróc khỏi làn da.
Ghi chú:Số lượng các loại lá được dùng cho mỗi lần nấu nhiều hay ít là tùy thuộc vào bệnh nặng hay nhẹ (mỗi lần nấu có thể sử dụng từ 7 – 20 lá trầu; từ 10 – 20 lá bèo hoa dâu; từ 2 – 4 nắm rau răm; lượng muối hột vừa đủ mặn (không nên quá mặn); lượng nước từ 2 – 3 lít nước). Mỗi ngày nên tắm và thoa hỗn hợp lá này 2 lần (không nên tắm lại bằng nước sạch ngay mà phải đợi khoản 3 – 4 tiếng đồng hồ sau mới tắm lại bằng nước sạch nhằm giúp cho nước từ hỗn hợp lá này thấm sâu vào những vùng bị vảy nến). Nên ngưng sử dụng các loại thuốc tây điều trị bệnh vảy nến trước đây mình đã sử dụng.





Lá trầu (có thể trồng ngay trong vườn hoặc mua ở chợ)



Rau răm (có thể trồng ngay trong vườn hoặc mua ở chợ)



Bèo hoa dâu
(Thường sống ở các ao sen, có thể nuôi bèo ngay trong các ao gần nhà)



Muối hột (Muối sống)

Rất mong quý mọi người cùng chia sẻ 2 bài thuốc dân gian này đến với những ai bị bệnh vảy nến để giúp họ tìm thấy được niềm vui và sự dễ chịu trong cuộc sống hàng ngày.

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

BỆNH VẨY NẾN CHỮA NHANH KHỎI NHẤT Ở ĐÂU

Cây lược vàng (còn gọi là lan vòi) là cây thuộc họ thài lài, có tên khoa học là Callisia fragrans. Lược vàng còn là một loại cây cảnh, dễ trồng, dễ chăm sóc, có tác dụng chữa được nhiều loại bệnh.

Lược vàng có lá dài, nhiều tầng, thân bò, có hoa trắng dạng dây. Cây lược vàng là loại dược liệu khá an toàn. Tuy nhiên, không nên sử dụng lâu ngày, không sử dụng ở liều cao.
Cây lược vàng được phát hiện về tác dụng chữa bệnh đầu tiên tại Mehico, về sau những tin tức về khả năng thần kỳ của nó được truyền bá sang Nga, và thật sự tại Nga lược vàng mới được trọng dụng như 1 thần dược, đã có rất nhiều báo cáo khoa học và các tài liệu lâm sàng về thành phần hoạt chất sinh học, tác dụng chữa bệnh của cây lược vàng ra đời tại đất nước này.
Một số tác dụng nổi trội của cây lược vàng
  • Tác dụng kháng khuẩn, nhất là đối với những chủng vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp.
  • Tác dụng tăng cường miễn dịch.
  • Tác dụng chống ôxy hóa.
  • Lược vàng có tác dụng chống viêm mạn, tác dụng giảm đau ngoại biên và ức chế một số dòng tế bào ung thư ở mức độ trung bình.
  • Lược vàng không có tác dụng giảm đau theo cơ chế thần kinh trung ương, không gây hạ huyết áp.
Ngăn ngừa và hỗ trợ trong việc điều trị ung thư, các khối u ác tính.
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ và Canada, dịch ép từ cây lược vàng rất giàu các chất kích thích sinh học có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của nhiều loại tế bào ung thư. Trong lược vàngchứa các chất có hoạt tính sinh học gồm flavonoid, steroid và nhiều khoáng tố vi lượng có lợi cho sức khoẻ:
  • Chất flavonoid đóng vai trò như vitamin P có khả năng làm bền mạch máu và tăng tác dụng của vitamin C.  Quercetin là một chất chống oxy hoá tế bào mạnh, có khả năng ngăn ngừa và  kháng ung thư, các khối u ác tính.
  •  Chất phytosterol trong cây Lược Vàng có tác dụng chống xơ cứng và kháng ung thư. 
Hỗ trợ việc điều trị các bệnh về gan, phổi, thận, dạ dày, huyết áp, đau nhức xương khớp.
Chất Flavonoid còn có tác dụng làm giảm thương tổn gan, bảo vệ chức năng gan khỏi một số độc tố như  CCl4, benzen, ethanol, CHCl3…Ngoài ra Flavonoid còn giúp làm tăng lượng glycogen trong gan điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chức năng giải độc gan, hỗ trợ trong việc điều trị viên gan, xơ gan, bảo vệ tế bào gan hiệu quả, kích thích mật, chống co thắt ở những tổ chức cơ nhẵn (túi mật, ống dẫn mật, phế quản….), chống viên loét dạ dày, tá tràng, thông mật, đau nhức xương khớp, viêm thận.
Trên hệ tim mạch, flavonoid có tác dụng làm tăng biên độ co bóp và tăng thể tích/ phút của tim, hồi phục tim khi bị ngô độc bởi CHCl3, quinin, methanol, ổn định nhịp tim.

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Ở ĐÂU CHỮA BỆNH VẨY NẾN TỐT NHẤT


Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì . Là do sự rối loạn điều tiết tạo nên một màng ngăn bám chặt trên da. Màng bám này sản sinh tế bào nhanh gấp 10 lần so với bình thường rồi chết. Nhưng thay vì mất đi như tế bào chết bình thường thì nó nổi lên thành từng vẩy trắng.
Bệnh Vẩy Nến- thường xuất hiện ở đầu gối, khuỷu tay, da đầu nhưng đôi khi cả ở thân thể, gan bàn tay, bàn chân và các ngón chân. đôi khi xuất hiện toàn thân, các vảy trắng bong ra khi gãi và để lại một lớp dưới màu hồng, đôi khi có rớm máu
Vẩy Nến được xem như một tình trạng tăng sinh quá mức của các keratinocyte ở thượng bì dưới sự kích thích của các lymphocyte ở bì. Cơ chế chính xác và dây chuyền tương tác giữa các keratinocyte và các tế bào miễn dịch vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng cho thấy các tế bào T hoạt hóa là những chất điều chỉnh miễn dịch chủ yếu trong sinh bệnh học của vẩy nến.Thoạt đầu, các tế bào T hoạt hóa xâm nhập vào lớp bì ở vùng da tổn thương nhờ các phân tử kết dính tế bào và cytokine tiền viêm interleukin-8 (IL-8). Đa số tế bào T ở thượng bì là loại CD4+helper. Các tế bào T bị kích hoạt bởi các tế bào nhận diện kháng nguyên. Quá trình này sản xuất ra nhiều loại cytokine. Các tế bào T sản xuất IL-2 và interferon-y (INE-y) được gọi là tế bào Th1 và miễn dịch trung gian tế bào. Ngược lại, các tế bào T sản xuất IL-4, IL-5 và IL-10 được gọi là các thế bào Th2 và góp phần trong miễn dịch cơ thể. Các cytokime Th1 là những chất tiền viêm, còn các cytokine Th2 là những chất chống viêm. Trong vẩy nến, loại Th1 chiếm ưu thế còn Th2 ít hơn.
Triệu chứng cua :Bệnh Vẩy Nến
Bệnh thường xuất hiện từ từ, tồn tại một thời gian rồi thuyên giảm. Sau đó bệnh tái phát, nhất là khi có chấn thương da, cháy nắng, viêm, dị ứng thuốc. Dấu hiệu đặc biệt nhất là những mảng vết thương trên da khô, hình bầu dục hoặc tròn, mầu hồng đỏ phủ lên trên là nhiều lớp vẩy mầu bạc. Các vết này rất ngứa và đau. Ngứa vì da khô và dây thần kinh dưới da bị một vài hóa chất kích thích, khiến cho não phát ra cảm giác ngứa, muốn gãi. Ngoài ra, dấu vết trên da có thể là: 
-Vẩy Nến từng mảng lớn mầu đỏ với hậu quả trầm trọng như rối loạn thân nhiệt, mất cân bằng chất điện giải cơ thể.
-Vẩy Nến khớp xương, gây trở ngại cho cử động.
-Vẩy Nến giọt mầu đỏ hình bầu dục.
-Vẩy Nến đảo ngược ở nếp gấp trên da như cơ quan sinh dục, nách.
-Vẩy Nến mủ với bóng nước chứa mủ.
Bệnh thường có trên da đầu, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị ảnh hưởng. Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể.
Khi lành, vết thương thường không để lại sẹo và ở trên đầu, tóc vẫn mọc. 
Trong 60% các trường hợp, móng tay móng chân cũng bị bệnh: móng chẻ, mất mầu dầy cộm nom như bị bệnh nấm.
Khoảng từ 10 tới 30% bệnh nhân bị viêm khớp-vẩy nến, thường thường ở tuổi 30 tới 50.
Xác Định :Bệnh Vẩy Nến
Không có thử nghiệm máu hoặc phương thức khoa học nào để chẩn đoán bệnh. Bác sĩ xác định bệnh qua hình thù, mầu sắc của vẩy trên da, đôi khi lấy một chút mô ở vùng bệnh để tìm tế bào đặc biệt vẩy nến.
Điều trị : Điều trị Bệnh Vẩy Nến là cả một thách thức với mục đích chính là gián đoạn sự tăng sinh quá nhanh của tế bào biểu bì, giảm viêm da, vẩy nến. 
Có nhiều phương thức trị liệu khác nhau. Bác sĩ sẽ lựa phương thức thích hợp cho từng bệnh nhân và tùy theo bệnh nặng hay nhẹ. Điều trị tại chỗ bạn có thể tắm gội bằng Sastid hoặc Polytar. Bôi mỡ Salicylé 5% hoặc mỡ BenzoSaly vào tổn thương có nhiều vẩy. Nếu tổn thương bớt vảy hoặc hết vảy thì bạn có thể bôi các chế phẩm có chứa steroid như Temprosone, Flucinar, Synalar, Fucicort, Diprosalic…Song song là điều trị toàn thân khi bệnh trong giai đoạn bùng phát thì bạn nên dùng một đợt kháng sinh như Ampicilline hoặc Rovamycin. Có thể dùng thêm thuốc chống ngứa, chống dị ứng như Phenecgan hoặc Chlorpheniramine lúc đi ngủ.
Các phương thức điều trị đó là:
1- Thuốc thoa ngoài da:
Thuốc Chữa Bệnh Vẩy Nến :Với dạng bệnh nhẹ, thuốc thoa trên da có thể giải quyết vấn đề. Bệnh nặng hơn, cần phối hợp với thuốc uống hoặc chích.
a-Thuốc Donovex thuộc nhóm Vitamin D tổng hợp làm giảm viêm và ngăn sự tăng sinh tế bào da.
b-Thuốc Corticosteroids như Ultravate, Tenovate, Psorcon, rất công hiệu và thường được dùng ở trường hợp bệnh nhẹ hoặc trung bình.
c-Thuốc Retinoid từ sinh tố A như Tazorac.
2- Quang trị liệu với ánh sáng mặt trời, các tia tử ngoại B (UBV), quang hóa trị liệu PUVA (Psoralen Plus Ultraviolet A), laser xung nhuộm màu tía (Pulsed Dye Laser).
3- Dược Phẩm - Có nhiều dược phẩm đặc trị bệnh vẩy nến:
a- Rheumatrex (Methotrexate). Thuốc này được dùng trong trường hợp bệnh nặng, tái phát và không bớt sau khi dùng các phương thức khác. Thuốc phải do bác sĩ quyết định và theo dõi sau khi đã chẩn định bệnh bằng sinh thiết mô bào. Thuốc có nhiều tác dụng phụ mạnh.
b- Dược phẩm sinh học Alefacept (Amevive), etanercept (Enbrel), infliximab (Remicade). Đây là các loại thuốc chích có tác dụng trên tế bào miễn dịch T cell để trị bệnh được nghi là do miền dịch gây ra và được dùng khi các trị liệu khác không thành công.
c- Neoral (Cycloporine) Thuốc dùng khi bệnh nặng, không thuyên giảm với PUVA, Retinoid hoặc Methotrexate. Thuốc có thể gây ra cao huyết áp và bệnh thận.
d- Retinoid uống (Acitretin), Tegison cho các trường hợp vẩy nến trầm trọng.
Giới thiêu sản phẩm tốt nhất HT chữa Bệnh Vẩy Nến và Á sừng :Kliquidclorophyll-A
-Kliquidclorophyl-A ức chế phát triển của vi khuẩn và nấm, kích thích việc phục hồi các mô đã bị hư hại, trị - Bệnh Vẩy Nến vô cùng hiệu nghiệm, kết quả thật nhanh chóng không ngờ.Thực tế cho thấy, rất nhiều bệnh nhân đã được chữa dứt bệnh vẩy nến trong vòng 30 ngày đến 90 ngày (với trường hợp nặng nhất ).Chlorophyll giúp thải độc cho gan,lọc máu, tiêu diệt nấm và vi khuẩn trên da giúp cho da nhanh chóng phục hồi các tổ chức mô . Kết hợp với :Diposalic,Glovate hoặc Flucinar bôi ngoài hiệu quả đáp ứng càng cao. Tại nhiều nước châu Âu (Đức, Anh, Pháp …) và FDA tại Mỹ coi chlorophyll và chlorophyllin như một thực phẩm-thuốc an toàn, không có giới hạn về liều lượng uống (Báo cáo của FAO-WHO số 557, năm 1974).
-Kliquidclorophyl-A đã được áp dụng rất nhiều trong việc điều trị các bệnh thoái hoá da,Viêm da, nhiễm trùng da, tăng huyết áp, tiểu đường, alzhermer,vẩy nến , á sùng …
Các lợi điểm chính của việc sử dụng chlorophyllin:
- Nguồn gốc tự nhiên, có thể sử dụng lâu dài, không có tác dụng phụ và không tương tác với các thuốc khác.
- Ức chế sự phát triển của các vi khuẩn, đặc biệt là các vi khuẩn kỵ khí (có nhiều trong đường tiêu hoá và khoang miệng, mảng bám răng,các lớp tế bào da bị chết) các vi khuẩn này bị ức chế bởi oxy được sinh ra từ chlorophyllin. Chất diệp lục còn có khả năng sát khuẩn, khử mùi trong các vết thương, vết loét. Năm 1948, cố DS. Đỗ Tất Lợi là người đầu tiên sử dụng chất diệp lục chiết suất từ cây xanh vào mục đích chữa trị các vết thương nhiễm trùng.Các vết lở loét ngoài da cho bộ đội.

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

BỆNH VẨY NẾN CHỮA Ỏ ĐÂU TỐT NHẤT

Vẩy Nến (Psoriasis) là một bệnh ngoài da mãn tính, hay tái phát. Đặc điểm của bệnh là có những vẩy khô mầu bạc hồng, rất ngứa, tụ gọn với nhau. Vẩy lớn nhỏ khác nhau thường có trên khuỷu tay, cánh tay trước, đầu gối, chân, da đầu và các bộ phận khác trong cơ thể.

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây ra bệnh chưa được biết rõ. Một giải thích cho rằng hệ miễn dịch của cơ thể phát ra một tín hiệu khiến tế bào da tăng trưởng quá nhanh mà sinh ra bệnh. Cũng có giải thích bệnh do gene di truyền và nhiều người rong một gia đình có thể cùng bị bệnh.

Một số yếu tố có thể làm bệnh phát ra là: xúc động tâm lý mạnh; chấn thương liên tục trên da; nhiễm độc da và tác dụng của một vài dược phẩm. Bệnh có bất cứ ở tuổi nào nhưng thường là từ 2 tuổi tới 40 tuổi. Người da trắng thường mắc bệnh hơn người da mầu.

Triệu chứng

Bệnh thường xuất hiện từ từ. Đặc biệt của bệnh là xuất hiện một thời gian rồi thuyên giảm, sau đó tái phát, nhất là khi có chấn thương da, cháy nắng, viêm, dị ứng thuốc.

Vẩy bệnh thường có trên da đầu, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị bệnh. Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể.

Vết da đặc biệt nhất thường có cạnh rất rõ rệt, rất ngứa, hình bầu dục hoặc tròn với mầu hồng phủ trên với các vẩy mầu bạc, dầy, đục. Khi vết thương lành, nó không để lại sẹo và ở trên đầu, tóc vẫn mọc như thường. Trong 60% các trường hợp, móng tay móng chân cũng bị bệnh: móng chẻ, mất mầu dầy cộm nom như bị bệnh nấm.

Định bệnh

Bệnh chẩn đoán dễ dàng nhờ hình thù, mầu sắc của vẩy trên da cũng như sau khi làm sinh thiết tế bào da.

Tiên lượng

Vẩy nến là bệnh không lây lan. Ngoại trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc, chứ bệnh vẩy nến thường không gây ra ảnh hưởng xấu cho sức khỏe tổng quát. Nếu có chỉ một chút ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền vì da chẳng giống ai.

Bệnh nhẹ khi chỉ có dưới 2% da bị ảnh hưởng; trung bình khi có từ 3 đến 10% da bệnh và nặng khi trên 10% da có vẩy Tế bào ở các vẩy tăng sinh rất mau, chưa kịp rụng đã ra lớp khác nên các vầy chùm đè lên nhau. Bệnh gây khó chịu nhất khi xuất hiện ở da đầu, bìu dái, bàn tay, bàn chân và móng tay.

Điều trị
Trị liệu hiệu quả nhất là dùng thuốc bôi có Corticosteroid, Gudron, tia cực tím hoặc tắm nắng với thể vẩy nến khu trú.

Đối với bệnh vẩy nến toàn thân ta cần dung hòa trị liệu hệ thống, đặc biệt là Methotrexat. Ngoài ra, một hình thức hóa trị liệu mới là dùng Methosalen uống kết hợp với một nguồn ánh sáng từ ngoài có cường độ cao và bước sóng dài, người ta gọi là PUVA trị liệu.

Theo tôi bạn nên khám chuyên khoa da liễu để chẩn đoán chắc chắn và các bác sỹ kê đơn thuốc điều trị cho bạn.

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013

CHỮA BỆNH VẨY NẾN TỐT NHẤT Ở ĐÂU


Vảy nến là một bệnh da mạn tính, căn nguyên chưa sáng tỏ. Ngày nay người ta cho rằng vảy nến là bệnh da di truyền. Dưới tác động của các yếu tố như stress, nhiễm khuẩn, chấn thương cơ học, vật lý…, gene gây vảy nến được khởi động.
Tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở vùng da đầu và vùng bị tỳ đè, khu trú một vùng hoặc rải rác nhiều nơi, có khi khắp toàn thân, thường có tính chất đối xứng.

Tổn thương cơ bản của vảy nến là đỏ – vảy. Người bệnh thấy xuất hiện các đám mảng đỏ kích thước khác nhau, từ vài milimet đến vài centimet, có khi hàng chục centimet (các mảng lớn cố thủ ở một vài vị trí), giới hạn rõ, hơi gồ cao, nền cứng cộm. Có khi vảy trắng choán gần hết nền đỏ, chỉ còn lại viền đỏ xung quanh rộng hơn lớp vảy. Vảy màu trắng đục bóng như màu nến trắng. Vảy nhiều tầng, nhiều lớp, dễ bong, khi cạo vụn ra như bột trắng, như phấn, như vết nến rơi lả tả. Vảy tái tạo rất nhanh, bong lớp này thì lớp khác lại đùn lên, số lượng nhiều.

Người bệnh cảm thấy ngứa ít hoặc nhiều, thường ngứa nhiều ở giai đoạn đang tiến triển. Một số người bệnh không ngứa mà chỉ có cảm giác vướng víu, ảnh hưởng thẩm mỹ. Có thể gặp tổn thương móng, bản móng có hố lõm nhỏ, hay có các đường kẻ theo chiều dọc. Có khi móng dòn vụn, dày ở bờ, 10 móng cùng bị một lúc.
Vảy nến ở da đầu thường là các đám mảng đỏ, nền cộm, bề mặt phủ vảy trắng, thường mọc lấn ra trán thành một viền gọi là vành vảy nến. Tóc vẫn mọc xuyên qua tổn thương. Vùng sau tai đỏ, có vết nứt, có khi xuất tiết, dễ nhầm với viêm da đầu…
Bệnh tiến triển mạn tính, các đợt cao trào xen kẽ các đợt thuyên giảm. Vảy nến lành tính, bệnh nhân sống khỏe mạnh suốt đời, trừ một số thể nặng như vảy nến thể khớp, vảy nến đỏ da toàn thân.
Việc điều trị bệnh vảy nến còn nhiều nan giải. Rất nhiều loại thuốc, nhiều phương pháp được đưa ra song chưa có loại nào chữa bệnh khỏi hẳn, chỉ tạm đỡ, sau một thời gian lại tái phát. Điều trị bệnh này chủ yếu là “làm sạch” tổn thương nhanh chóng và kéo dài thời gian tái phát.
Khi bị mắc bệnh vảy nến, bệnh nhân cần gặp bác sĩ chuyên khoa da liễu để được tư vấn cụ thể, dùng thuốc theo chỉ định, tránh những tác dụng phụ của thuốc. Bệnh nhân tránh căng thẳng thần kinh, sinh hoạt điều độ, hạn chế chất kích thích (rượu, cà phê…) và xác định tư tưởng “chung sống hòa bình” với bệnh.

BỆNH VẨY NẾN CÓ HIỆN TƯỢNG GÌ

Đặc điểm bệnh rất dễ nhận thấy bởi những tổn thương riêng lẻ có giới hạn rõ. Người bệnh thấy xuất hiện các đám mảng đỏ kích thước khác nhau, từ vài milimet đến vài chục centimet, hơi gồ cao, nền cứng cộm.

Vảy nhiều tầng, nhiều lớp, dễ bong, khi cạo vụn ra như bột phấn, như vết nến rơi lả tả. Vảy tái tạo rất nhanh, số lượng nhiều. Thương tổn mới xuất hiện trên các vùng bị kích thích như gãi, tiêm, mổ; kích thích lý hóa… thường xuất hiện đầu tiên ở vùng da đầu và vùng bị tỳ đè, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục.




Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể. Có khi còn gặp vảy nến ở nếp gấp hay dạng đỏ da lan tràn toàn thân và khó điều trị. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị bệnh trong 60% các trường hợp.
Vảy nến là bệnh không lây lan (trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc), không gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe, chỉ ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền vì da… chẳng giống ai.

Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

NGUYÊN NHÂN GÂY RA BỆNH VẨY NẾN

nguyen nhan gay benh vay nen 300x210 Nguyên nhân và triệu chứng gây bệnh vẩy nến
Triệu chứng của bệnh vảy nến thay đổi tùy theo loại bệnh bạn mắc. Một số triệu chứng thông thường của bệnh vẩy nến mảng – dạng phổ biến nhất của bệnh, bao gồm: 
  • Những vùng màu đỏ, da tấy đỏ, thường xuyên bị bao bởi những vảy xốp, màu bạc. Những mảng này có thể gây ngứa và đau, đôi khi bị nứt và chảy máu. Trong những trường hơp nghiêm trọng, vùng da bị kích thích sẽ phát triển và nhập vào vùng khác, bao phủ một vùng lớn.
  • Sự rối loạn ở móng tay và móng chân, bao gồm sự đổi màu và các vết lõm trong móng. Móng cũng có thể bắt đầu bị vỡ và tách ra khỏi nền móng.
  • Vùng da đầu có vảy da hoặc vảy cứng. 
  • Những vùng nhỏ bị chảy máu khi da bị trầy xước.
  •  Bệnh vảy nến cũng có thể liên hệ với bệnh viêm khớp vảy nến, dẫn đến những cơn đau và sưng tấy ở khớp. Tổ chức nghiên cứu bệnh vảy nến quốc gia ước đoán khoảng 10-30% người mắc bệnh vảy nến cũng sẽ mắc bệnh viêm khớp vảy nến.
Cho những triệu chứng hiếm gặp hơn của bệnh vảy nến, hãy xem bài tổng quát sau:

Nguyên nhân làm bệnh vảy nến tái phát?

Trong khi những nguyên nhân tiềm tàng của bệnh vảy nến bắt nguồn từ hệ miễn dịch của cơ thể, những tác nhân kích thích nhất định có thể làm cho bệnh nặng hơn và tái phát. Bao gồm:
  • Thời tiết khô và lạnh. Thời tiết như thế có thể làm da bạn bị khô, làm cơ hội cho bệnh tái phát cao hơn. Ngược lại, thời tiết nóng, nhiều nắng có thể giúp kiểm soát các triệu chứng của bệnh ở đa số người.
  • Căng thẳng. Mắc bệnh vảy nến có thể tự gây ra căng thẳng và bệnh nhân thường báo cáo rằng các triệu chứng của bệnh bộc phát đặc biệt trong suốt thời gian căng thẳng đó.
  • Một số loại dược phẩm. Những loại thuốc nào đó, như là lithium (một cách điều trị phổ biến cho rối loạn lưỡng cực), thuốc sốt rét, và một vài loại thuốc beta-blocker (dùng để trị chứng cao huyết áp, bệnh tim, và một số chứng loạn nhịp tim) có thể làm bệnh vảy nến bộc phát.
  • Nhiễm trùng hay bệnh. Những loại bệnh nhiễm trùng nào đó, như viêm họng hay viêm amiđan có thể gây bệnh vảy nến giọt (guttate psoriasis) và những loại bệnh khác. Bệnh vảy nến có thể nặng thêm ở những người mắc bệnh HIV.
  • Tổn thương da. Ở một số người mắc bệnh vảy nến, tổn thương da – bao gồm đứt, bầm tím, bỏng, u bướu, tiêm chủng, vết xăm và những loại khác – có thể làm cho bệnh vảy nến bộc phát ở nơi bị tổn thương. Tình trạng này được gọi là “hiện tượng Koeboner”.
  • Chất có cồn. Sử dụng chất có cồn có thể gia tăng nguy cơ tái phát bệnh, chí ít là ở đàn ông.
  • Hút thuốc. Một số chuyên gia cho rằng hút thuốc có thể làm bệnh vảy nến nặng thêm.